Dòng sự kiện:
Bị chồng ngoại tình đánh đập, ly hôn vợ được phần hơn
09/09/2017 09:00:03
Thời gian gần đây, chồng tôi hay nhắn tin trên facebook cho một người phụ nữ lạ, thậm chí lén gặp gỡ cô ta. Ở nhà, chồng tôi liên tục lấy cớ chửi bới, đánh đập tôi...

 Thậm chí đất chung của hai vợ chồng, con cái, chồng tôi không cho tôi làm và thu hoạch.

Tôi đã tìm đủ mọi cách để khuyên ngăn, nói nếu không thay đổi sẽ làm đơn ly dị. Thế nhưng chồng tôi không chịu tỉnh ngộ, dọa sẽ đày đọa tinh thần tôi. Giờ chúng tôi đã ly thân, tôi đưa đơn ly hôn 3 lần nhưng anh ta không chịu ký. Tôi nộp đơn đơn phương ra tòa nhưng phải chờ đợi lâu.

Về phía tài sản, chồng tôi nói sẽ lấy hết đất đai, nhà cửa nếu ly hôn, không cho tôi và các con. Mấy ngày nay anh ta đuổi đánh không cho mẹ con tôi vào nhà, trong khi trên giấy tờ mọi thứ đều là tài sản chung. Xin luật sư tư vấn giúp tôi.

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Luật sư Nguyễn Thành Công tư vấn:

1. Vấn đề ly hôn

Theo như chị trình bày thì chồng chị không chịu ký tên vào đơn ly hôn. Vậy nên nếu chị vẫn muốn ly hôn thì cần nộp đơn đơn phương ly hôn ra tòa án có thẩm quyền (tòa cấp quận, huyện nơi chồng chị cư trú) để yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn.

Vấn đề thời gian giải quyết thì phải theo qui định của pháp luật, không thể nhanh hơn được. Theo điểm a, Khoản 1, Điều 203 BLTTDS 2015, đối với vụ án ly hôn thì thời gian chuẩn bị xét xử là 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. Thực tế tính đến khi mở phiên tòa xét xử và trừ hao thời gian tòa giải quyết các vấn đề khác trong vụ án thì trung bình khoảng 06 tháng. Nếu các tranh chấp diễn biến phức tạp thì thời gian kéo dài đến mức khó định, có vụ đến vài ba năm

2. Chia tài sản chung

Để xác định tài sản chung của vợ chồng, Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình 2014 (L.HNGĐ 2014) qui định:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Điều 59 L.HNGĐ 2014 qui định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng sau khi ly hôn như sau:

“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết. 

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.”

Như vậy, tài sản chung vợ chồng sau khi ly hôn được chia như sau:

- Trước hết dựa trên sự thỏa thuận của 2 bên.

- Nếu không thỏa thuận được thì: Đối với tài sản riêng của ai thì sẽ thuộc về người đó; Đối với tài sản chung thì thông thường sẽ được chia đôi.

Cần xác định những tài sản nào thuộc sở hữu chung của vợ chồng chị, trong khối tài sản chung ấy có ½ là sở hữu của chị. Điều này được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Vì vậy chồng chị không được ngang nhiên định đoạt hay sở hữu tất cả. Trường hợp đôi bên không thỏa thuận chia được thì nhờ tòa án giải quyết. Về nguyên tắc là tài sản chung vợ chồng chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố a,b,c,d tại Khoản 2, Điều 59 L.HNGĐ 2014, nếu trước tòa chị chứng minh được chồng chị có người đàn bà khác, đánh đập chị,… vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng thì tỷ lệ chia sẽ thay đổi theo hướng có lợi cho chị hơn. 

Tư vấn bởi Luật sư Nguyễn Thành Công, Công ty Luật TNHH Đông Phương Luật.

Theo VietNamNet
 
Thích và chia sẻ bài viết này :
Tags :
Đóng góp bài vở cho tòa soạn vui lòng gửi vào email: toasoan@antt.vn
Đang phổ biến