Dòng sự kiện:
Chủ quán bánh xèo bạo hành bé trai 14 tuổi trong thời gian dài bị xử lý thế nào?
23/11/2020 16:05:28
Cậu bé 14 tuổi kể, bà Tuyết thường lôi em vào phòng kín để đánh nên các nhân viên khác không biết, mà dù có chứng kiến nhưng trước thái độ hung dữ của chủ quán, vì miếng cơm manh áo nên không ai chẳng dám can ngăn.

Công an tỉnh Bắc Ninh cho biết, khoảng 21h ngày 21/11, qua công tác nắm tình hình, Công an huyện Yên Phong phát hiện một cháu bé tại khu vực Chùa thôn Lạc Nhuế (xã Thụy Hòa, huyện Yên Phong) có biểu hiện bất thường.

Sau khi đưa về trụ sở, cháu bé trình bày tên là Trương Quang D. (SN 2005), quê quán thôn Thuận Hòa, xã Thành Phước, huyện Nghĩa Hành (Quảng Ngãi), có mẹ đã mất, bố đẻ là Trương Quang Thái (đang sống ở quê).

Tháng 9/2020, D. được anh ruột là Trương Quang D. (SN 2002) đưa ra Yên Phong làm thuê tại quán bánh xèo miền Trung do vợ chồng Nguyễn Thị Ánh Tuyết (SN 1986), quê quán xã Nghĩa Mỹ, huyện Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) và Ngô Thanh Vũ (SN 1985), ở quận 12 (TP HCM) làm chủ, thuê địa điểm kinh doanh tại Ấp Đồn, xã Yên Trung, huyện Yên Phong (Bắc Ninh).

Trong quá trình làm việc tại quán, D. bị Tuyết đánh đập nên chiều ngày 21/11, D. đã bỏ đi khỏi quán.

Quán bánh xèo nơi xảy ra vụ việc. Ảnh: Người Lao Động

Sau khi tiếp nhận và tiến hành xác minh ban đầu, Công an huyện Yên Phong đã chuyển D. đến Trung tâm y tế huyện Yên Phong để khám và điều trị. Hiện D. đang được anh trai là Trương Quang D. chăm sóc tại Trung tâm y tế, sức khỏe và tinh thần của cháu bé bình thường.

Liên quan đến vụ việc, CQĐT Công an huyện Yên Phong đã ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở, nơi làm việc và ra Quyết định tạm giữ hình sự đối với Nguyễn Thị Ánh Tuyết về hành vi Hành hạ người khác, theo quy định tại điều 140 Bộ luật hình sự.

Trao đổi với PV, Luật sư Nguyễn Anh Thơm (Trưởng văn phòng luật sư Nguyễn Anh, Đoàn luật sư TP Hà Nội) cho biết hành vi của nghi phạm đối với cháu bé trong suốt thời gian dài là rất tàn ác, xâm phạm nghiêm trọng quyền trẻ em được pháp luật bảo vệ.

Hành vi của nghi phạm đã trực tiếp hại đến quyền được bảo hộ về thân thể, sức khỏe, uy tín, danh dự, nhân phẩm của người bị lệ thuộc đã cấu thành tội Cố ý gây thương tích và tội Hành hạ người khác. Tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 134 và điểm a, Khoản 2 Điều 140 BLHS.

Trong đó, hành vi của nghi phạm đã đánh đập cháu bé bằng các hung khí nguy hiểm đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe là khách thể cao nhất nên cần thiết phải xem xét xử lý cả về tội Cố ý gây thương tích. Tỷ lệ thương tích của cháu càng cao thì nghi phạm càng phải chịu trách nhiệm tương ứng với định khung tăng nặng theo quy định tại Điều 134 BLHS.

Trường hợp tỷ lệ thương tích của cháu bé dưới 11% thì nghi phạm vẫn phải chịu trách nhiệm theo Khoản 1 Điều 134 BLHS là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Đối với hành vi Hành hạ người khác được thể hiện ở hành vi đối xử tàn ác với người bị lệ thuộc vào người phạm tội.

Hành vi đối xử tàn ác là làm cho nạn nhân đau đớn về thể xác và đè nén, áp bức về tinh thần như: đánh đập, giam hãm không cho ra khỏi nhà, bắt nhịn ăn, uống, không cho mặc đủ ấm,… Tuy nhiên, nếu việc hành hạ đó còn gây thương tích nghiêm trọng cho nạn nhân thì nghi phạm còn phải chịu trách nhiệm về khách thể cao hơn đó là xam phạm đến tính mạng, sức khỏe người khác về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 134 BLHS.

Cậu bé 14 tuổi bị chủ quán bánh xèo bạo hành với chi chít vết thương trên người, mặt bầm tím.

Đây là vụ việc xâm phạm nghiêm trọng quyền trẻ em gây bức xúc trong dư luận xã hội nên cần thiết phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Trẻ em là người yếu thế, là đối tượng đặc biệt được pháp luật bảo vệ mà nghi phạm lại đang tâm đánh đập, hành hạ cháu bé trong suốt thời gian dài như thời nô lệ là điều không thể bao biện và chấp nhận được trong xã hội văn minh. 

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ; k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%; b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Điều 140. Tội hành hạ người khác

1. Người nào đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ thuộc mình nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên 49;

c) Đối với 02 người trở lên.

Tuệ An

Theo: ANTT/NĐT
Thích và chia sẻ bài viết này :
Mọi góp ý tin bài cho chúng tôi vui lòng gửi vào email: antt.toasoan@gmail.com
  • Liên kết hữu ích
Đang phổ biến