Xóa nợ 8.000 tỷ đồng tiền thuế: Doanh nghiệp nào được gọi tên?

ANTT.VN – Mới đây, Bộ Tài chính đã đề nghị xóa hơn 7.963,8 tỷ đồng tiền nợ thuế, nợ phạt, tiền phạt chậm nộp. Dư luận đặt ra câu hỏi, việc xóa nợ, khoanh nợ thuế dựa trên nguyên tắc nào, có đảm bảo công bằng không, nhóm đối tượng nào được xoá nợ thuế?

Tin liên quan

Để góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp (DN), Bộ Tài chính đề xuất: Xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với DN, tổ chức thực tế đã giải thể, phá sản hoặc bỏ kinh doanh trước ngày 1/1/2014 và khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với DN, tổ chức thực tế đã giải thể, phá sản hoặc bỏ kinh doanh trong giai đoạn từ 1/1/2014 - 31/12/2015.

Ảnh minh họa

Xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của hộ, cá nhân kinh doanh đã bỏ kinh doanh trước ngày 1/1/2014 và khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của hộ, cá nhân kinh doanh đã bỏ kinh doanh trong giai đoạn từ ngày 1/1/2014 - 31/12/2015.

Theo Bộ Tài chính, việc xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt cho người nộp thuế là 7.963 tỷ đồng. Số tiền khoanh nợ cho những trường hợp thực tế đã giải thể, phá sản, bỏ kinh doanh theo đề xuất là 6.731 tỷ đồng, việc khoanh nợ là tạm thời không tính tiền chậm nộp để theo dõi do các đối tượng này gặp khó khăn chứ không phải là xóa nợ.

Lý giải về thông tin về xóa nợ thuế, Tổng cục Thuế cho biết, việc đề xuất, lựa chọn các đối tượng để xóa nợ, khoanh nợ thuế tháo gỡ khó khăn cho DN, cá nhân kinh doanh được căn cứ trên cơ sở tổng kết đánh giá tình hình thực hiện xử lý xóa nợ thuế trong thời gian qua và tình hình thực tiễn, cơ quan thuế đã rà soát ký lưỡng các đối tượng để để xuất, cụ thể:

Theo Điều 65 Luật quản lý thuế năm 2007, việc xoá nợ tiền thuế, tiền phạt được áp dụng đối với hai (02) trường hợp: Doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của pháp luật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt; Cá nhân được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không có tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt còn nợ.

Bên cạnh đó, Khoản 3 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13 có hiệu lực từ 1/7/2013 thì việc xóa nợ thuế được áp dụng bổ sung đối với “các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của người nộp thuế không thuộc 02 trường hợp trên mà cơ quan quản lý thuế đã áp dụng tất cả các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế và các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt này đã quá mười năm, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế, nhưng không có khả năng thu hồi.”

Thực tế thực hiện xử lý nợ thuế trong thời gian qua thì những quy định của pháp luật về xóa nợ thuế đối với 3 trường hợp nêu trên chưa bao quát được hết thực trạng kinh doanh, chưa xử lý được tồn tại về nợ thuế không thể thu hồi được nhất là trong giai đoạn kinh tế có nhiều biến động bất lợi từ ngày 31/12/2013 trở về trước.

Cụ thể, nhiều người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán bằng vốn ngân sách nhà nước (NSNN) hoặc có nguồn từ NSNN nhưng chưa được thanh toán nên không có nguồn nộp kịp thời nhưng vẫn bị tính tiền chậm nộp tiền thuế dẫn đến thiếu công bằng giữa doanh nghiệp và nhà nước khi doanh nghiệp nợ thuế thì bị tính tiền chậm nộp nhưng NSNN chậm thanh toán cho doanh nghiệp thì không bị tính lãi; Hoặc nhiều người nộp thuế kinh doanh thua lỗ, nhiều trường hợp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, phải ngừng hoạt động hoặc thậm chí giải thể, phá sản nhưng không thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục giải thể, phá sản. Số nợ thuế đã phát sinh từ trước thời điểm mất khả năng thanh toán, giải thể, phá sản (mặc dù Cơ quan thuế đã áp dụng hết các biện pháp cưỡng chế theo quy định mà chưa thu được) bị tính tiền chậm nộp ở mức 0,05%/ngày (18,3%/năm) liên tục tăng thêm trong khi người nộp thuế đã không còn hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoặc đã giải thể, phá sản.

Đối với các trường hợp chây ỳ, cố tình chiếm đoạt tiền thuế của nhà nước sẽ bị xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật.

PV

Tin chuyên mục
Đang nóng trên An Ninh Tiền Tệ