Dòng sự kiện:
Nghi phạm nổ súng cướp ngân hàng Techcombank ở Sóc Sơn có phạm tội Giết người?
30/04/2020 06:00:07
Theo quan điểm của luật sư, súng quân dụng là vũ khí rất nguy hiểm có khả năng gây tử vong rất cao cho con người. Hành vi của nghi phạm đã có dấu hiệu phạm tội Giết người theo Điều 123 Bộ luật hình sự.

Chiều 29/4, Công an Hà Nội thông tin vụ cướp chi nhánh Ngân hàng Techcombank ở huyện Sóc Sơn.

Theo cơ quan chức năng, khoảng 15h10 ngày 20/4, Trần Hữu Trung (29 tuổi, trú TP Uông Bí, Quảng Ninh) đeo khẩu trang, đội mũ lưỡi trai và mang găng tay, giả dạng khách hàng đến chi nhánh nhà băng trên. Sau khi vào nơi giao dịch, Trung nổ súng uy hiếp nhân viên nhà băng để cướp. Tuy nhiên, một nhân viên đã nhấn nút báo động nên tên cướp chạy ra ngoài.

Thấy bảo vệ ngân hàng áp sát, Trung bắn phát súng thứ 2 để thị uy rồi lên xe máy bỏ trốn theo hướng quốc lộ 3 đi Thái Nguyên. Tại hiện trường, cảnh sát thu được 2 vỏ đạn súng quân dụng K59 và hòm tôn.

Vụ nổ súng không gây thiệt hại về người. Ngoài ra, phía nhà băng cũng không bị cướp tiền. Tiếp tục rà soát, cơ quan chức năng phát hiện BKS 11B1-21447 gắn vào chiếc xe máy do Trung điều khiển là biển số xe tang vật vụ trộm cắp tài sản xảy ra năm 2018 ở Bắc Ninh.

Đối tượng chính trong vụ cướp ngân hàng ở Sóc Sơn là Trần Hữu Trung (SN 1991, phường Trưng Vương, TP Uông Bí, Quảng Ninh). Ảnh: ANTĐ.

Đêm 20/4, Công an Hà Nội cùng lực lượng thuộc Cục Cảnh sát Hình sự, Bộ Công an và Công an tỉnh Bắc Giang truy bắt nghi can gây án.

Tối 21/4, cảnh sát tìm thấy túi vải đựng BKS xe máy, 1 viên đạn K59, mũ lưỡi trai và nhiều tang vật Trung sử dụng khi cướp nhà băng. Mở rộng điều tra, khuya 23/4, CQĐT phát hiện Chu Đức Chính (17 tuổi, quê Bắc Giang) đang cất giấu chiếc xe máy do Trung điều khiển đến nhà băng trước vụ nổ súng.

Từ lời khai của Chính, cảnh sát tiếp tục triệu tập Giáp Ngọc Ninh (27 tuổi, ở Bắc Giang) là người đã chở Trung bỏ trốn.

Liên quan vụ việc, Luật sư Nguyễn Anh Thơm, Trưởng văn phòng Luật sư Nguyễn Anh (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết hành vi phạm tội của nghi phạm là rất táo tợn, liều lĩnh, coi thường pháp luật, sử dụng vũ khí xông vào chi nhánh ngân hàng để nhằm chiếm đoạt tài sản Trên cơ sở điều tra ban đầu đã xác định, nghi phạm đã sử dụng vũ khí quân dụng súng K59 bắn về phía nhân viên giao dịch nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 900 triệu đồng.

Tuy nhiên, một nhân viên đã nhấn nút báo động nên tên cướp chạy ra ngoài. Khi thấy bảo vệ ngân hàng áp sát, nghi phạm tiếp tục bắn phát súng thứ 2 nhằm mục đích chống trả để tẩu thoát. Như vậy, ban đầu, CQĐT đã khởi tố nghi phạm về tội Cướp tài sản và tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm điểm a Khoản 4 Điều 168, khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.

Với số tiền nhằm chiếm đoạt lên đến 900 triệu thì nghi phạm sẽ phải đối mặt với khung hình phạt tù từ từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Ngoài ra, qua theo dõi Clip nghi phạm nổ súng tại ngân hàng, theo quan điểm của luật sư, CQĐT sẽ làm rõ hành vi nghi phạm sử dụng súng K59 nhằm bắn hướng vào nhân viên giao dịch và bảo vệ ngân hàng hay không. Điều này sẽ được xác định vị trí, hướng bắn, đầu đạn bắn găm trên hiện trường...

Qua clip ghi lại cho thấy, khi nghi phạm nổ súng bắn về phía nhân viên giao dịch thì nữ nhân viên cúi xuống nên không trúng vào người. Theo quan điểm của luật sư, súng quân dụng là vũ khí rất nguy hiểm có khả năng gây tử vong rất cao cho con người. Hành vi của nghi phạm đã có dấu hiệu phạm tội Giết người theo Điều 123 Bộ luật hình sự.

Trường hợp nghi phạm nhằm bắn về phía nữ nhân viên giao dịch và nhân viên bảo vệ mà may mắn tránh được, dù không gây thương tích hay tử vong thì nghi phạm vẫn phải chịu trách nhiệm về tội Giết người trong trường hợp phạm tội chưa đạt theo Điều 15 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Trong trường hợp xét thấy có đủ căn cứ xác định nghi phạm phạm tội Giết người thì CQĐT sẽ khởi tố bổ sung nghi phạm theo Điều 123 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung giết nhiều người, giết người để thực hiện tội phạm khác, có tính chất côn đồ theo điểm a, g, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 168. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 1 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Làm chết người;

d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 1 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 304. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự

1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Có tổ chức;

b) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

c) Làm chết người;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

e) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

g) Vật phạm pháp có số lượng lớn hoặc có giá trị lớn;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;

đ) Vật phạm pháp có số lượng rất lớn hoặc có giá trị rất lớn.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên;

đ) Vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn hoặc có giá trị đặc biệt lớn.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Tuệ An

Theo: ANTT/NĐT
Thích và chia sẻ bài viết này :
Mọi góp ý tin bài cho chúng tôi vui lòng gửi vào email: antt.toasoan@gmail.com
  • Liên kết hữu ích
Đang phổ biến