Dòng sự kiện:
Xử lý thanh niên đạp tới tấp vào đầu nữ sinh sau va chạm giao thông thế nào?
08/12/2020 18:07:18
Theo luật sư, hành vi sử dụng chân đạp liên tiếp vào đầu nữ sinh, tuỳ theo tính chất, mức độ hậu quả, đối tượng sẽ phải chịu trách nhiệm tương ứng về tỷ lệ thương tích gây ra theo quy định tại Điều 134 BLHS.

>> Đối tượng đánh nữ sinh sau va chạm giao thông bị công an triệu tập

Vụ tai nạn xảy ra vào khoảng 17h ngày 7/12, tại đường Bùi Ngọc Thu, thuộc khu phố 5, phường Tương Bình Hiệp, TP Thủ Dầu Một (Bình Dương).

Thời điểm này, người đàn ông điều khiển xe máy mang BKS: 95E1-800.61 chở theo một người phụ nữ lưu thông trên đường Bùi Ngọc Thu thì bất ngờ sang đường. Lúc này, 2 học sinh đi xe đạp điện đang đi sau không xử lý kịp đã tông vào xe của đôi nam nữ. Cú va chạm mạnh khiến cả 2 xe ngã xuống đường. Tiếp đó, một phụ nữ điều khiển xe máy ngay sau 2 học sinh cũng lao vào hiện trường vụ tai nạn văng xa vài mét.

Sau va chạm, người đang ông đi xe máy không giúp đỡ người bị nạn mà còn lao vào dùng chân đạp liên tiếp vào học sinh điều khiển xe đạp điện. Chưa thỏa mãn, người đàn ông này còn rút trong người ra một cây gậy 3 khúc đánh liên tiếp vào em học sinh.

Hình ảnh ghi lại vụ nữ sinh bị hành hung sau va chạm giao thông

 

Được người dân lao ra ngăn căn, người này mới chịu dừng lại nhưng tiếp tục chửi bới, chỉ thẳng mặt đe dọa em học sinh. Sau đó, người này chở người phụ nữ rời khỏi hiện trường.

Trao đổi với PV về vụ việc dưới góc độ pháp lý, Luật sư Nguyễn Anh Thơm (Trưởng VPLS Nguyễn Anh, Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội) cho biết, hành vi của đối tượng thể hiện sự côn đồ, hung hãn, vô giáo dục, không những xâm phạm nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn nơi công cộng. Chỉ vì va chạm giao thông trên đường khi đối tượng điều khiển xe mô tô bất ngờ quay đầu không quan sát làm cho 2 học sinh đi xe đạp điện phía sau không xử lý kịp tông vào xe của đối tượng.

Đáng lẽ ra, với lỗi chuyển hướng không quan sát gây tai nạn thì đối tượng phải xem xét sự việc, giúp các em học sinh nhưng lại hung hãn, tay cầm công cụ hỗ trợ cây gậy ba khúc đang tâm lao vào và dùng chân đạp tới tấp cháu rất dã man, tàn bạo là điều không thể chấp nhận được và gây bức xúc cho quần chúng nhân dân.

Xét hành vi của đối tượng đã có dấu hiệu phạm tội Cố ý gây thương tích và tội Gây rối trật tự công cộng. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 134 và Điều 318 Bộ luật hình sự. Hành vi sử dụng chân đạp liên tiếp vào đầu nữ sinh, tuỳ theo tính chất, mức độ hậu quả, đối tượng sẽ phải chịu trách nhiệm tương ứng về tỷ lệ thương tích gây ra theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự.

Trường hợp nếu nạn nhân bị chấn thương sọ não nặng, nguy hiểm đến tính mạng thì đối tượng còn phải chịu trách nhiệm về tội Giết người theo quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự. Trong trường hợp tỷ lệ thương tích của nữ sinh dưới 11% thì đối tượng vẫn phải chịu chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c, i Khoản 1 Điều 134 BLHS với tình tiết định khung đối với người dưới 16 tuổi và có tính chất côn đồ.

Ngoài ra, đối tượng còn phải chịu xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ công cụ hỗ trợ cây gậy ba khúc theo Điểm c, Khoản 5 và Điểm a, Khoản 8 , Điều 10 của Nghị định 167/2013/nđ-cp quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình quy định quy định phạt tiền từ 10 triệu đến 20 triệu đối với hành vi tàng trừ công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép và hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật vi phạm.

Đối với hành vi điều khiển xe mô tô quay đầu xe không quan sát gây tai nạn giao thông, đối tượng sẽ bị xử phạt hành chính theo điểm b, khoản 7, Điều 6 Nghị đinh 100/2019/NĐ-CP với mức phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Hành vi phạm tội của đối tượng đã gây phẫn nộ trong dư luận xã hội và gây ảnh hưởng xấu đến tình tình an ninh trật tự tại địa phương, đặc biệt là có dấu hiệu phạm tội với trẻ em là người dưới 16 tuổi nên cần thiết phải xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe phòng ngựa tội phạm sử dụng bạo lực trong xã hội hiện nay.

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng

1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;

c) Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng;

d) Xúi giục người khác gây rối;

đ) Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng;

e) Tái phạm nguy hiểm.

Tuệ An

Theo: ANTT/NĐT
Thích và chia sẻ bài viết này :
Mọi góp ý tin bài cho chúng tôi vui lòng gửi vào email: antt.toasoan@gmail.com
  • Liên kết hữu ích
Đang phổ biến